Lọc sinh học - Biofitration (Nitrat hóa)

Ngô Tùng 30/05/2020
Lọc sinh học - Biofitration (Nitrat hóa)

*Các bạn khi mới bắt đầu đến với thú vui goldfish gặp nhiều vấn đề, thường nhất là làm sao để hệ lọc hoạt động tốt.
*Hệ lọc thực sự hoạt động tốt chỉ khi chu trình nitrat hoá hình thành và vận hành hiệu quả.
*Các bạn cứ hình dung CHU TRÌNH NITRAT HOÁ giống như cái Tolet trong nhà bạn vậy, không dám tưởng tượng lúc WC không hoạt động, hix. Sản phẩm cuối của chu trình là Nitrat ( NO3-) cũng cần loại trừ bằng cách thay nước.
* Bể cá cũng như nhà vậy muốn đẹp, sạch phải thay nước, chà thành hồ, dọn dẹp rêu thường xuyên.

1. Nguồn gốc của ammonia, nitrite, nitrate trong bể cá:
+ Sự phân huỷ các hợp chất protein: trong quá trình tiêu hoá cá vàng thải ra 90% của hợp chất nito là ammonia, ngoài ra có urea, creatine.
+ Sự phân huỷ chất hữu cơ (thức ăn thừa)
+ Nitrite là sản phẩm của quá trình nitrite hoá ammonia của vi khuẩn: nitrosomonas, nitrobacter. Nitrite có hàm lượng ở tầng mặt ít hơn tầng đấy
+ Nitrate là sản phẩm của quá trình oxy hoá nitrite: do vi khuẩn nitrobacter thực hiện. Nitrate ít độc hại với cá vàng. Khi hàm lượng nitrate trong hồ cao kết hợp với ánh sáng thì tảo lục và tảo khuê phát triển.

2 Ảnh hưởng của ammonia, nitrite, nitrate lên cá vàng:
* Gia tăng tính mẫn cảm của cá vàng vơi các yếu tố không thuận lợi: nhiệt độ, pH, sự thiếu oxy
* Ức chế sự phát triển bình thường
* Giảm khả năng sinh sản
* Giảm khả năng chống bệnh
* Hàm lượng ammonia quá thấp cũng không tốt cho cá vàng, nồng độ nên ở < 0,1 ppm
+ Nitrite: tác dụng độc bằng cách kết hợp với hemoglobin trong máu cá, làm cá vàng bị bệnh máu nâu. Khi kết hợp với hemoglobin nitrite làm giảm chức năng vận chuyển oxy đến các tế bào của cá.
+ Tính độc của nitrite sẽ giảm trong bể cá ấm, và độ mặn cao ( ứng dụng trong điều trị: muối và cắm sưởi)

3. Chu Trình Nitrat hoá

Quy trình vận hành cấp thiết, quan trọng của hệ lọc. Liên hệ chặc chẽ đến chất lượng nước của hồ cá.

A. Khái niệm cơ bản lọc sinh học:
Vật liệu lọc sinh học được làm từ vật chất không bị ăn mòn như nhựa, sợi thủy tinh, gốm sứ, đất sét hoặc đá với rất nhiều diện tích bề mặt để các tế bào vi khuẩn nitrat hóa có thể chiếm cứ.
Các tế bào vi khuẩn nitrat hóa phát triển trên mọi bề mặt của vật liệu lọc sinh học, cũng như trên mọi bề mặt ẩm ướt của hệ thống, chẳng hạn như bên trong các đường ống và thành bể. Vi khuẩn đi theo một chu trình liên tục là mọc, sinh sôi, trưởng thành và chết, sau đó bong/tróc ra khỏi vật liệu/giá thể và được thay thế bởi các vi khuẩn mới.
B. Vi khuẩn nitrat hoá:
Vi khuẩn trong tự nhiên có thể oxy hóa amoniac, sử dụng nó cho nhu cầu tăng trưởng và chuyển đổi nó thành nitơ nitrit. Đây là một quá trình hiếu khí tiêu thụ oxy hòa tan trong nước. Vi khuẩn thuộc giống Nitrosomonas chuyển đổi amoniac thành nitrit. Giống như amoniac, nitrit được sản sinh bởi nhóm vi khuẩn này gây độc cho sinh vật thủy sinh và phải được oxy hóa lần nữa thành một dạng của nitơ ít gây độc. Quá trình này được hoàn tất nhờ vi khuẩn có trong tự nhiên thuộc giống Nitrobacter. Những vi khuẩn này chuyển hóa và oxy hóa nitrit, sau đó chuyển đổi nó thành nitrat. Oxy cũng được tiêu thụ trong quá trình tạo ra nitrat. Sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển đổi amoniac và nitrit là nitrat, tương đối không độc hại khi ở mức 50 – 200 mg/L và thường có trong một hệ thống RAS.


C. Khởi động lọc sinh học
Một bộ lọc sinh học được khởi động bằng cách đưa vi khuẩn vào hệ thống và có thể được thực hiện bằng nhiều cách. Vi khuẩn nitrat hóa có thể được đưa vào bằng nước hoặc vật liệu lọc sinh học từ một hệ thống đã hoạt động, trầm tích lấy từ một ao hoặc với lượng nhỏ động vật/loài nuôi “khởi động”. Những loài động vật này phải vượt qua được sự khắc nghiệt của nồng độ amoniac và nitrit tăng cao và trong lúc đó các tế bào vi khuẩn sinh sản và chiếm cứ giá thể lọc sinh học. Ngoài ra, chế phẩm vi khuẩn thương mại có thể tạo được sự khởi động phù hợp.
D. Theo dõi chất lượng nước:
Các thông số chất lượng nước cần được theo dõi thường xuyên. Amoniac, nitrit, pH, nhiệt độ và độ kiềm là những thông số căn bản cần kiểm tra. Nên sử dụng các phương pháp chính xác và có thể lặp lại để đo nồng độ amoniac và nitrit. Các nhà điều hành phải chắc chắn có thể so sánh những thay đổi về chất lượng nước từ ngày này sang ngày kế tiếp.
E. Lời khuyên để bộ lọc sinh học khởi động nhanh hơn:
Nhiệt độ có thể được nâng lên một chút để tăng tốc độ phản ứng của các quá trình sinh học và sinh hóa, nhờ đó đẩy mạnh sự phát triển của quần thể vi khuẩn nitrat hóa. Tăng nhiệt độ không quá 3 – 5°C so với nhiệt độ nuôi dự kiến.

Tổng thể tích của một hệ thống có thể giảm đi nhờ vận hành các bể nuôi có mức nước thấp hơn trong giai đoạn khởi động bộ lọc sinh học. Với một thể tích nước ít hơn, nhiệt độ có thể bị thay đổi một cách nhanh chóng hơn, và số lượng các chất dinh dưỡng cần thiết theo liều lượng cho bộ lọc sinh học được giảm bớt giúp cho quá trình này hiệu quả hơn nhiều.

Nguồn: Extrabio sưu tầm và biên soạn

binh-luan

huy hoàng

07/08/2022

vs extrabio có khử được no3 không ạ

Viết bình luận của bạn:

Bài viết liên quan