Extrabio được nghiên cứu thế nào và cách thức hoạt động của vi sinh ra sao?

Ngô Tùng 12/06/2020
Extrabio được nghiên cứu thế nào và cách thức hoạt động của vi sinh ra sao?

     Ngày nay, xử lý sinh học bằng vi sinh vật được xem là một xu thế mới trong xử lý môi trường nói chung và trong nước nuôi cá nói riêng. Vi sinh vật có khả năng sản xuất ra các enzyme chuyển đổi các chất gây ô nhiễm thành thức ăn của chúng, đồng thời các enzyme này cũng tạo các phản ứng sinh hóa phân cắt các liên kết trong chất hữu cơ tạo ra CO2 [1]. Có rất nhiều nghiên cứu chứng minh được các chủng Alcaligenesodorans, Bacillus subtilis, Corynebacterium proponthum, Pseudomonas aeruginosa [2] có khả năng phân giải các chất hữu cơ dư thừa trong nước. Trong đó Bacillus subtilis được quan tâm và sử dụng nhiều nhất do hoạt lực phân hủy chất hữu cơ giàu protein, lipid, tinh bột,..cao hơn hẳn so với các chủng khác.

     Trong thực tế đã có một số chế phẩm vi sinh được công bố mang lại hiệu quả làm sạch nước. Các sản phẩm này thường phải trãi qua quá trình nghiên cứu và phát triển để mang lại thành phẩm chứa lượng vi sinh đang trong giai đoạn logarit (Log phase) và tạo môi trường phù hợp về pH, nồng độ chất dinh dưỡng, hàm lượng oxi hòa tan,… để vi sinh vật sinh trưởng và phát triển tốt. Nhưng trong quá trình bảo quản, tất cả các giống vi sinh nói chung hay Bacillus subtilis nói riêng đều không tránh khởi sự tác động bởi các yếu tố ngoại lai như thiếu dinh dưỡng, thiếu khí… Khi gặp điều kiện bất lợi như trên, các vi sinh vật sẽ cần một khoảng thời gian để tự điều tiết sản sinh các enzyme cần thiết để chúng thích nghi với điều kiện môi trường, sau đó tế bào mới có thể phân cắt, tái tạo DNA, làm trì trệ quá trình tổng hợp protein và ARN nên tế bào nhỏ lại hoặc sinh ra protein đói (starvation proteins) giúp chúng không bị chết đi. Khi gặp môi trường thuận lợi các vi sinh vật này có thể sinh trưởng và phát triển mạnh mẽ trở lại hoặc thậm chí là mạnh hơn khi đã sản sinh ra protein đói [3]. Ví dụ khi ở trong môi trường nước nuôi cá, các vi sinh vật có ngay môi trường thuận lợi để phát triển cũng như lượng chất hữu cơ dư thừa là nguồn dinh dưỡng dồi dào cho chúng. Mặt khác, khi lượng chất hữu cơ, chất độc có trong nước bị suy thoái thì số lượng vi sinh vật cũng suy giảm do thiếu nguồn thức ăn. Lúc này dư lượng còn trong nước chỉ gồm CO2 và sinh khối tế bào hoàn toàn vô hại cho môi trường nước cũng như thủy sinh [4][5].

     Chính vì những nguyên nhân trên mà việc sử dụng các chế phẩm vi sinh để làm sạch nước là một phương pháp hữu hiệu để tái tạo hệ sinh thái tự nhiên có trong nước mà hoàn toàn thân thiện với môi trường.

Tài liệu thao khảo

[1] Kumar A, Bisht BS, Joshi VD, et al. Review on Bioremediation of Polluted Environment: A Management Tool. International journal of Environmental Sciences. 2011;1(6):1079-93.

[2] Singh A, Kumar V, Srivastava JN. Assessment of Bioremediation of Oil and Phenol Contents in Refinery Waste Water via Bacterial Consortium. J Pet Environ Biotechnol. 2013;4(3):1-4.

[3] Nguyễn Lân Dũng (2010), Vi sinh vật học, Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội.

[4] Jain PK, Bajpai V. Biotechnology of bioremediation- a review. International journal of environmental sciences. 2012;3(1): 535-49.

[5] Sharma S. Bioremediation: Features, Strategies and applications. Asian Journal of Pharmacy and Life Science. 2012;2(2): 202-13.

Viết bình luận của bạn:

Bài viết liên quan